Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc. Vì sao hiện nay Việt Nam không chấp nhận đa nguyên, đa đảng?


ĐỀ CƯƠNG NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ 
ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Câu hỏi: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc. Vì sao hiện nay Việt Nam không chấp nhận đa nguyên, đa đảng?

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là sản phẩm của những điều kiện khách quan và chủ quan của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó cũng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc; là sự tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng mà người có công đầu là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

A. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN
1. Bối cảnh thế giới và trong nước tác động đến xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
a. Những tác động của tình hình thế giới:
  • Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, tiến hành chiến tranh xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa. Việt Nam là một nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí chiến lược quan trọng trở thành tầm ngắm của chủ nghĩa đế quốc. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc ngày càng gay gắt, do đó vấn đề chống đế quốc giải phóng dân tộc là một vấn đề cấp thiết và chỉ có Đảng của gia cấp vô sản mới thực hiện được sứ mệnh lịch sử này. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến phong trào cách mạng Việt Nam.
  • Năm 1917, Cách mạng tháng mười Nga thắng lợi đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, mở ra thời đại mới – thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng tháng mười Nga đã biến học thuyết Mác thành hiện thực, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng vô sản đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, là một tấm gương sáng đối với các quốc gia bị áp bức, trong đó có Việt Nam. Từ đó, cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới, mở ra một thời đại mới phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Chính vì những nguyên nhân này đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo. 
  • Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy phong trào đấu tranh của cộng sản và công nhân các nước trên thế giới. Tạo tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới như vạch ra cương lĩnh chính trị, phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa trên lập trường cách mạng vô sản; vạch ra cương lĩnh, đường lối đấu tranh của cách mạng Việt Nam, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán của cách mạng Việt Nam như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong… tạo tiền đề quan trọng cho quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
b. Quá trình  xâm lược, cai trị của thực dân Pháp và tác động của nó đối với xã hội Việt Nam:
Năm 1858, Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Năm 1884, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Chính sách bóc lột, cai trị của thực dân Pháp thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
  • Về Chính trị:
+ Xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, thi hành chính sách cai trị trực tiếp và chia để trị rất thâm độc. Chia Việt Nam thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc. Xóa tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ chính trị thế giới, lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.
+ Đàn áp đẫm máu các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam.
⇒ Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi từ xã hội phong kiến độc lập chuyển thành xã hội thuộc địa nữa phong kiến.
  • Về Văn hóa - xã hội: 
+ Thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị, xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học.
+ Du nhập nhiều văn hóa phẩm đồi trụy, tạo tâm lý sợ Pháp, phục Pháp.
+ Khuyến khích tệ nạn xã hội như: dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc thế hệ trẻ.
  • Về Kinh tế:
+ Tiến hành hai lần khai thác thuộc địa, biến Đông Dương trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính quốc.
+ Vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động, thuế khóa nặng nề.
⇒ Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp càng thêm sâu sắc, đồng thời dân tới những thay đổi trong cơ cấu kinh tế và các giai tầng xã hội Việt Nam.

2. Sự chuyển biến về kinh tế - xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX:
  • Về Kinh tế: Bước đầu du nhập quan hệ sản xuất tư bản vào Việt Nam. Từ một xã hội phong kiến có nền kinh tế chủ đạo là nông nghiệp đến xuất hiện các nhà máy, xí nghiệp đưa người nông dân thành công nhân.
  • Về Xã hội: Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi từ xã hội phong kiến độc lập sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến nên xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc, xuất hiện nhiều giai cấp mới như địa chủ, nông dân, tiểu tư sản, tư sản, công nhân. Trong đó, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam nhưng khi chưa có Đảng thì giai cấp này không thể thực hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc nên cần thiết phải có sự hình thành Đảng Cộng sản để đưa ra những đường lối đúng đắn giúp giai cấp này thực hiện sứ mệnh của mình. Giai cấp công nhân ra đời là cơ sở giai cấp xã hội để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời cùng quá trình thực dân Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Ngoài những đặc điểm chung với giai cấp công nhân quốc tế - đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất, sống tập trung, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để và có năng lực quốc tế vô sản; giai cấp công nhận Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng – ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, xuất thân từ nông dân là cơ sở cho khối liên minh công nông vững chắc khi làm cách mạng, chịu ba tầng áp bức, bóc lột của phong kiến, tư sản, thực dân Pháp và tiếp thu ảnh hưởng của cách mạng tháng mười Nga.
  • Mâu thuẫn xã hội tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn dân tộc (mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp, là mâu thuẫn chủ yếu) và mâu thuẫn giai cấp (mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ).
3. Các phong trào yêu nước trước khi có Đảng:
Các phong trào đấu tranh yêu nước hình thành để giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội:
a. Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến:
  • Phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết đứng đầu (1885-1896), nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra sôi nổi rộng khắp và thể hiện tinh thần quật cường chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân khi triều đình phong kiến đã đầu hàng. Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là ngọn cờ tiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi, toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả năng liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nên cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại năm 1896 cũng là lúc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước Việt Nam.
  • Phong trào tự phát của nông dân Yên Thế (1897-1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, đây là cuộc đấu tranh anh dũng của nông dân Việt Nam kéo dài gần 30 năm, ghi mốc son trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp. Sự bền bỉ, ngoan cường của phong trào thể hiện sức mạnh to lớn của nông dân nhưng phong trào vẫn mang nặng “cốt cách phong kiến” không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành một cuộc cách mạng GPDT nên cuối cùng cũng bị thực dân Pháp đàn áp.
b. Phong trào chống Pháp theo khuynh hướng tư sản:
  • Tiêu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội Châu (1867-1940) tổ chức, lãnh đạo và xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh (1872-1926) đề xướng.
  • Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội, chủ trương xây dựng chế độ quân chủ lập hiến như ở Nhật, tổ chức đưa thanh niên yêu nước VN sang Nhật học tập. Năm 1912, thành lập tổ chức Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam. Nhưng chương trình, kế hoạch hoạt động của hội lại thiếu tôn chỉ rõ ràng. Khi Phan Bội Châu bị bắt thì ảnh hưởng của tổ chức này đối với phong trào yêu nước VN chấm dứt.
  • Phan Châu Trinh và những người cùng chí hướng muốn giành độc lập dân tộc bằng con đường cải cách đất nước: “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”, bãi bỏ chế độ quân chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dân trí, mở mang thực nghiệp. Phan Châu Trinh đã đề nghị nhà nước “bảo hộ” Pháp tiến hành cải cách để cứu nước. Phong trào đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man, giết hại các sĩ phu yêu nước và nhân dân tham gia biểu tình.
⇒ Các phong trào yêu nước trên đều biểu dương tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc VN nhưng hầu hết đều thất bại vì:
  • Các phong trào yêu nước từ các lập trường phong kiến đã thất bại là do không có đường lối đúng đắn vì giai cấp phong kiến, địa chủ đã không còn khả năng dẫn dắt dân tộc thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi.
  • Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản đã thất bại là do đường lối chính trị không rõ ràng, nhất là không biết dựa vào quần chúng nhân dân mà chủ yếu dựa vào uy tín cá nhân nên không tạo sức mạnh tổng hợp, không tạo ra được sự thống nhất cao trong những người lãnh đạo phong trào, chính vì vậy nên khi người lãnh đạo bị bắt thì phong trào cũng tan rã theo.
⇒ Thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến hay tư sản đã nói lên một sự thật: con đường cứu nước của các phong trào cách mạng Việt Nam đều rơi vào tình trạng bế tắc. Xã hội Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng cả về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng vì thiếu một chính Đảng chân chính tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, thiếu một đường lối chính trị đúng đắn, chưa tập hợp được đông đảo quần chúng nhân nhân tham gia cách mạng, chưa có phương pháp cách mạng khoa học.
⇒ Xuất phát từ những thực tế đó đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có một đường lối cách mạng đúng đắn và một đảng chính trị có khả năng tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đưa phong trào yêu nước đi đến thắng lợi.

4. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng.
  • Sinh ra trong một gia đình tri thức yêu nước, lớn lên từ một miền quê có truyền thống đấu tranh quật khởi, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã có “chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng không tán thành con đường cứu nước của các cụ. Xuất phát từ lòng yêu nước với khát vọng giải phóng dân tộc, cùng với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiền bối, ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới hữu hiệu hơn. 
  • Trên hành trình đi và tìm được con đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã đi qua 4 châu lục, 28 quốc gia và đã trải qua 12 nghề để kiếm sống. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc trên cuộc hành trình lao động, tìm kiếm, khảo nghiệm con đường cứu nước mới cho dân tộc diễn ra vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Lý luận của Lênin và lập trường đúng đắn của quốc tế cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bị tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ở Việt Nam.
  • Về tư tưởng: Truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua tờ báo Le Paria - người cùng khổ với tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Ái Quốc là Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925, Đường Kách Mệnh xuất bản năm 1927.
  • Về chính trị: Đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị (gồm 5 luận điểm chính, sau này phát triển thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng). Hệ thống này có một số nội dung cơ bản sau:
+ Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là: Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới.
+ Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc.
+ Nguyễn Ái Quốc nhận định rõ, trong nước nền nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công-nông làm động lực cách mạng.
+ Cách mạng muốn dành được thắng lợi trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa Mác-Lênin: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, củng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”.
+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao.
⇒ Những tư tưởng và quan điểm trên của Nguyễn Ái Quốc được truyền bá thông qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trong phong trào vô sản hóa từ 1928 - 1929, làm cho phong trào công nhân và các phong trào yêu nước Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ.
  • Về tổ chức: 
+ Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có rất đông người Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảng mácxít.
+ Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã để lập ra nhóm Cộng sản đoàn.
+ Tháng 6/1925, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc). Sau khi thành lập, Hội đã mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin cho những người trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ngoài ra hội còn cử người đi học Trường Đại học Cộng sản Phương Đông (Liên Xô), trường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc). Để tuyên truyền, Hội còn xuất bản tờ báo Thanh niên in bằng chữ quốc ngữ.
+ Tháng 7/1925 tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. 
+ Năm 1927, xuất bản cuốn Đường Cách Mệnh – đây là cuốn sách giáo khoa chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam, tập hợp tất cả các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc. Trong cuốn sách này, tầm quan trọng của lý luận cách mạng được đặt lên vị trí hàng đầu với cuộc vận động cách mạng và đối với cách mạng tiên phong.
+ Từ đầu năm 1926, Hội VN CM Thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở trong nước, đầu  năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú trọng xây dựng cơ sở trong Việt Kiều ở Thái Lan.
⇒ Như vậy, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp công nhân – là tổ chức tiền thân dẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
⇒ Sau khi lựa chọn con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện “lộ trình” đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập. Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam – đẩy bánh xe lịch sử của CMVN phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử.

5. Đảng ra đời xuất phát từ yêu cầu tất yếu phải hợp nhất ba tổ chức Đảng lúc bấy giờ:
  • Với không khí dâng lên cao mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ trong vòng 7 tháng (từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930), cả nước lần lượt đã ra đời ba tổ chức cộng sản. Đó là, Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1/1930). Lúc này, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất, đủ khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước vừa là yêu cầu tất yếu khách quan, vừa là chỉ thị của Quốc tế Cộng sản. 
  • Từ cuối năm 1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc và dân chủ ở nước ta, đặc biệt là phong trào công nông theo con đường cách mạng vô sản, đã phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên không còn đủ sức để lãnh đạo nữa. Cần phải thành lập một Đảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân, giai cấp nông dân cùng các lực lượng yêu nước và cách mạng khác đấu tranh chống đế quốc và phong kiến tay sai, giành lấy độc lập và tự do.
  • Trước tình hình cấp bách đó, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Hương Cảng (Hồng Kông) triệu tập ngay hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức đó lại và thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất. Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, tại Hương Cảng, sau một thời gian ngắn gấp rút chuẩn bị, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một tổ chức duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và Lời kêu gọi do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Tất cả các tài liệu này được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Nội dung Cương lĩnh chính trị đã nêu rõ đường lối chiến lược và sách lược phù hợp với tình hình thực tế của cách mạng Việt Nam, đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện mục tiêu người cày có ruộng và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
⇒ Kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự kiện lịch sử vĩ đại ấy đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, là nền tảng vững chắc cho dân tộc Việt Nam tiếp nối trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

B. HIỆN NAY, VIỆT NAM KHÔNG CHẤP NHẬN ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG
1. Các khái niệm:
  • Đa nguyên: là nhiều hệ tư tưởng, lập trường. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Vì vậy, Việt Nam không chấp nhận đa nguyên. 
  • Đa đảng: nhiều Đảng cùng tồn tại trong một quốc gia.
2. Lịch sử cách mạng Việt Nam phủ định đa nguyên, đa đảng
  • Lịch sử ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản còn có sự tồn tại của hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội, khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng giải tán  theo. Có thời kỳ ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, còn tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước.
  • Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Bài học từ sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông  Âu còn nguyên giá trị. Từ khi chấp nhận bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ta.
  • Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tiễn 87 năm qua của cách mạng Việt Nam.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 30 năm qua giành những thắng lợi to lớn.
  • Tất cả những lý do trên khẳng định rằng chỉ có Đảng ta mới xứng đáng là người duy nhất đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Do vậy để nâng cao sức chiến đấu, để củng cố niềm tin của nhân dân, Đảng ta cần phải thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng về mọi mặt: tư tưởng chính trị, đạo đức và tổ chức:
+ Về tư tưởng, chính trị: Giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên định, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, hệ tư tưởng của Đảng.
Công tác giáo dục phải làm cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng ăn sâu, bám chắc vào đời sống chính trị tinh thần của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, phá hoại khối đoàn kết trong Đảng, trong toàn xã hội.
+ Về đạo đức: Ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước hết phải nâng cao kiến thức mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, trong đó tập trung bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta xác định việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống là chế độ bắt buộc, là tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên.
+ Về tổ chức: Củng cố tổ chức, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt của Đảng. Đây là cơ sở để bảo đảm đoàn kết thống nhất, kỷ luật trong Đảng. Vì vậy, phải quán triệt, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chế độ tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng. Kiên quyết chống quan điểm, tư tưởng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc, chế độ xây dựng Đảng, hòng làm cho Đảng suy yếu về tổ chức, dẫn đến biến chất Đảng.

3. Tính nguy hiểm của luận điểm đòi Việt Nam thực hiện đa đảng đối lập:
  • Các thế lực thù địch rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” như là “khuôn vàng, thước ngọc” của dân chủ mà chúng ta phải tuân theo. Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Quan điểm này được khoác cái vỏ “vì dân chủ”, “vì dân, vì nước”, lợi dụng những khó khăn, phức tạp và cả khuyết điểm của chúng ta trong quá trình thực thi dân chủ để chống phá, nên nó càng trở nên nguy hiểm.
  • Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở chỗ:
+ Thứ nhất, gây nên sự chia rẽ trong xã hội và sự thiếu thống nhất về chính trị tư tưởng trong xã hội; sự hoài nghi, dao động, thiếu niềm tự tin của quần chúng ND đối với sự lãnh đạo của Đảng.
+ Thứ hai, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội, xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, “lái’ nền dân chủ nước ta sang nền dân chủ khác, phi xã hội chủ nghĩa.
+ Thứ ba, đó là luận điểm phản khoa học và phi lịch sử. Bởi vì, trên thực tế chỉ có dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đa đảng như trong xã hội phương Tây thực chất là sự chi phối của đảng tư sản, là biểu hiện sự tranh chấp giữa các nhóm chính trị của giai cấp tư sản. 

4. Điều gì sẽ đến, nếu ở Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng:
  • Đất nước diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, làm đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa. Thảm họa đó chắc chắn sẽ giáng cả lên đầu nhân dân.
  • Đảng CS mất vai trò lãnh đạo xã hội; mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta bị tiêu tan. 
  • Kết luận:
  • Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng là vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân.
  • Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự ổn định và phát triển, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
  • Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới đất nước của nhân dân ta là bằng chứng hùng hồn của sự vươn lên xây dựng “một quốc gia "phồn thịnh” với đúng nghĩa thực sự, khẳng định tính tuyệt đối và không thể phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ dân chủ tốt đẹp và ưu việt, là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta. Cần phải giữ gìn, nâng cao và phát huy dựa vào sự quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
⇒ Vấn đề đặt ra hiện nay đối với chúng ta không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng, mà là phải thực hiện tốt hơn nữa quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.